New Page 1
Sự thật cuộc triệt thoái Quân Đoàn II (9) /Hết

Trận Pleime (thứ nhì) 1974.
Trại Biên Phòng thời Lực Lượng Đặc Biệt tuy quân là Dân sự Chiến Đấu nhưng nhờ phương tiện đầy đủ, yểm trợ từ Không Quân dồi dào, quân tăng viện sẵn sàng, nên quân Bắc Cộng khó đánh chiếm được. Khi cải tuyển thành Biệt Động Quân Biên Phòng thì các thứ vừa kể coi như giảm xuống tối thiểu nếu không nói là mất hẳn.
Trại Biên Phòng bấy giờ, vẫn nằm cô lập ở những nơi đèo heo hút gió, giữa núi rừng trùng điệp, nhất là ở các Vùng 1, 2, 3 Chiến Thuật, vì vậy lâm vào tình trạng hiểm nguy vô cùng. Quân Bắc Cộng có thể dễ dàng đánh chiếm khi họ muốn. Nhưng đóng trại rồi rút bỏ trại đồng nghĩa vói giao đất cho địch, điều mà Chủ trương 4 Không của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cương quyết không chấp nhận, thì không chỉ huy nào muốn giải quyết tận gốc vấn đề hiểm nguy này của các Trại Biên Phòng. Chẳng thà chờ khi nào địch tấn công thì ta cố sức đánh giải tỏa, nếu không được, có bị mất luôn cũng còn ... nhẹ tội hơn.
Tướng Tất chỉ huy Biệt Động Quân Vùng 2, lại là gốc Lực Lượng Đặc Biệt, chứng kiến các Trại Biên Phòng Vùng 1–2– 3 lần lượt mất hết, ông Tất than thở với tác giả, buồn đứt ruột Đỗ Sơn ơi. Bây giờ Tướng Tất chỉ còn nhớ được hai vụ, Trại Ben Het và Trại Pleime. Trại Ben Het của Tiểu Đoàn 95 Biệt Động Quân Biên Phòng, vì nằm quá sát đường 14 nên quân Bắc Cộng bỏ qua trong khi họ đang nỗ lực mở rộng con đường, nhưng khi nó đã hoàn thành để họ tải chiến cụ, tiếp liệu thì chắc chắn Trại này sẽ bị thanh toán. Lúc quân Bắc Cộng mở trận tấn công Trại Ben Het, ngày nào Tướng Healey cũng cùng bay lên với Đại Tá Tất để yểm trợ Không Quân cho Trại. Tướng Tất kể, ngày nào Trại cũng bị pháo kích liên miên, CSBV không muốn Trại Ben Het đưa quân ra quấy rối công tác làm đường của họ. Hai chúng tôi trên cao nhìn xuống thấy khẩu pháo đặt bắn vào Trại rất rõ. Khẩu pháo này nguyên là của chúng ta đã bị địch quân lấy vào lúc Tân Cảnh mất, nó vẫn tiếp tục để tại chỗ, dùng súng ta bắn quân ta. Đánh vài phi tuần mà chẳng ăn nhằm gì cả, Tướng Healey nói cần phải dùng tia Laser mới triệt hạ được. Ông ta nói xong gọi ra Hạm Đội 7 xin phi tuần. Tướng Tất nhớ lại, 1 phi tuần gồm 2 Khu trục cơ bay vào, chiếc bay trước chiếu tia Laser vào hướng khẩu pháo, chiếc thứ nhì bắn và ném bom, khẩu pháo nổ tung văng lên trời nhìn thật đã. Đó là thời xưa, bây giờ máy bay trang bị tia Laser vừa chiếu vừa đánh bom rất chính xác.
Nhưng, ông Tất thở dài, việc làm của Tướng Healey chỉ là vì chút cảm tình cuối cùng với Trại Biên Phòng trước khi ông ta vĩnh viễn rời khỏi Việt Nam. Trại đâu có trụ được lâu, đành phải chịu mất thôi.
Đối với Pleiku, Trại Biên Phòng Pleime và Quận Thanh An là 2 cái gai trong mắt của Sư Đoàn 320 CSBV. Chiếm được 2 cứ điểm này thì Bắc Cộng mới có được một hậu phương lớn an toàn từ Kontum xuống đến Ban Mê Thuột. Dù hai thị xã Kontum và Pleiku vẫn còn trong tay Việt Nam Cộng Hòa thì cũng không gây khó khăn gì cho họ. Trận Pleime thứ nhì xảy ra trong 2 tháng 7 – 8 năm 1974.
Tác giả :
Tôi nhớ Chuẩn Tướng khi mang Thiếu Tá chỉ huy lực lượng Delta đã từng vào giải vây Trại Pleime hồi năm 1965 ? Tướng Tất:
Đúng vậy, cũng là Sư Đoàn 320, lúc họ mới xâm nhập, bây giờ thì họ quá quen thuộc với Vùng Tây Nguyên, họ đang dốc toàn lực thanh toán Trại Pleime lần nữa. Tôi muốn nói qua một chút về Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 82, đó là Thiếu Tá Vương Mộng Long ...
Tác giả :
Tôi có nghe đến tên của Thiếu Tá Long.
Tướng Tất:
Ừ, đây là một Sĩ quan có duyên với tôi. Khi tôi vừa từ Vùng 4 tới Pleiku thì anh Long đang là Đại Úy thuộc Tiểu Đoàn 11, Liên Đoàn 2 Biệt Động Quân Tiếp Ứng. Đại Úy Long tìm tôi than phiền về người chỉ huy tiền nhiệm. Tôi không muốn tò mò về chuyện này. Tôi biết Long kẹt trong vụ “Phật Giáo Miền Trung”, bị thuyên chuyển lên Pleiku. Nhìn và qua cách nói chuyện tôi nhận xét Long là người nóng nhưng trực tính, nói theo kiểu lính thì hơi gàn gàn. Với tính này, nói năng ngang ngang dễ bị trù dập lắm. Nhưng với tôi thì khác, ngựa chứng thường là ngựa hay, ngựa chiến, tôi thấy ở Đại Úy Long một Sĩ quan sẽ còn tiến xa. Nên tôi kéo Long về làm Trưởng Phòng 2, hướng dẫn cho hoạt động trinh sát theo cách Lực Lượng Đặc Biệt. Đối với anh ta chẳng phải khó khăn gì vì đã từng là trinh sát Biệt Động Quân. Đúng như tôi dự đoán, Đại Úy Vương Mộng Long đã thực hiện được nhiều cuộc hành quân rất xuất sắc, tôi chạy đặc cách cho Long lên Thiếu Tá thực thụ rồi đưa về nắm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân Biên Phòng.
Để tấn công Trại Pleime quân Bắc Cộng xử dụng quân 2 Trung Đoàn 9 và 48 CSBV cộng thêm Trung Đoàn 26 VC của Mặt Trận B3. Vào lúc trận đánh lên cao điểm, Bắc Cộng đưa thêm Trung Đoàn 64 CSBV nhập trận đánh biển người. Họ cũng tổ chức được 12 vị trí đặt súng phòng không xung quanh Pleime để bắn chận các phi vụ tản thương, tiếp tế và đối đầu với các trận không tập.
Phía lực lượng trấn thủ gồm 4 Đại Đội thuộc Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân Biên Phòng của Thiếu Tá Vương Mộng Long và 1 Đại Đội thuộc Tiểu Đoàn 81. Lực lượng này phải giữ Trại Pleime và hai tiền đồn Chư Hô và Đồi 509. Sau một tuần lễ ác chiến, tiền đồn Chư Hô bị tràn ngập. Một tuần sau tới phiên đồi 509. Bấy giờ, lực lượng đông đảo quân Bắc Cộng tập trung đánh vào trung tâm căn cứ Trại Pleime. Quân trấn thủ kể, Bắc Cộng bắt đầu đánh vào Trại bằng hàng loạt pháo 130 ly, 120 ly, súng cối 82 ly, và súng phòng không đặt từ tiền đồn Chư Hô bắn thẳng xuống Trại. Và còn đạn SKZ tiếng “départ” chưa nghe kịp thì đầu đạn đã nổ ngay sân chính của Tiểu Đoàn. Pháo dồn dập, triền miên.
Nhớ câu dặn dò “Tử Thủ” của Đại Tá Tất, lệnh của Thiếu Tá Long là tiết kiệm từng viên đạn, chỉ bắn khi chắc chắn hạ được địch quân. Phía lực lượng trấn thủ trông chờ vào không yểm, nhất là Hỏa Long ban đêm, để buộc địch phải im tiếng pháo. Ngoài vấn đề thiếu đạn đánh địch, kho quân lương cũng bị pháo địch hăm dọa, lại còn vào mùa ngập nước binh sĩ phải tát nước liên miên để ... cứu gạo.
Đã có lúc Tiểu Đoàn gần như tuyệt vọng, Thiếu Tá Long phải nói với anh em binh sĩ “Nếu không giữ được căn cứ thì chúng ta phải ‘ra đi’ cho thật đẹp”. Câu nói này được thu âm lại để nếu chuyện không may xảy ra thì còn có mà lưu gương bất khuất. Theo lời thuật của lực lượng trấn thủ Trại Pleime, quân Bắc Cộng thường xuyên tấn đến được sát hàng rào trại, đến nỗi nếu ban ngày phi cơ thả dù tiếp tế lạc ra khỏi trại là đêm đó binh sĩ Biệt Động Quân đành phải “ngửi ké” mùi thuốc lá của ta do địch phì phà.
Tướng Tất than rằng minh có tới 5 Liên Đoàn, 4 Biên Phòng và 1 Tiếp Ứng nhưng không được chỉ định hành quân cứu trợ Trại Pleime vì mình đang chịu trách nhiệm phòng thủ Kontum, Thanh An. Có thể Tướng Toàn nghĩ Liên Đoàn Biệt Động Quân không đủ mạnh để đối đầu với Sư Đoàn 320 CSBV, cũng có thể vì Sư Đoàn 22 BB đang hành quân cơ động nên để Sư Đoàn tham chiến. Nếu có diễn tiến phức tạp thì cũng dễ đối phó hơn. Trung Đoàn 42 BB nhận nhiệm vụ này, chủ trương kéo Sư Đoàn 320 CSBV ra để đánh tiêu hao và làm giảm áp lực địch.
Vậy mà sau 33 ngày đêm, Trại Pleime vẫn không di tản chiến thuật. Sư Đoàn 320 CSBV với 20 lần tấn công biển người vào căn cứ đều bị đánh bật ngược ra, không một lần thành công. Địch tổn thất khá nặng, vừa nản vừa lo ngại sẽ bị các lực lượng tăng viện bao vây tập kích đành phát lệnh lui binh. Thiếu Tá Long sau khi nhận được tiếp tế, đã dẫn quân tiến chiếm lại hai hai tiền đồn Chư Hô và Đồi 509.
Tướng Tất:
Tôi có điều này yêu cầu anh Đỗ Sơn. Khi viết cuốn sách, anh đừng quên những lời nói này của tôi.
Trận Pleime 1974 là một trận lớn, một chiến công xuất sắc của Thiếu Tá Vương Mộng Long và Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân Biên Phòng, Thiếu Tá Long xứng đáng được thăng cấp đặc cách Trung Tá. Nhưng tôi đã làm lỡ mất cơ hội này. Tới bây giờ tôi cố gắng nghĩ tại sao có trường hợp xảy ra như thế mà vẫn không thể nhớ. Tôi rất quý mến Long, vẫn coi Long như người em của mình, nói theo giọng lính hồi xưa thì Thiếu Tá Vương Mộng Long là “con gà” của tôi.
Vậy mà tôi đã không làm tròn bổn phận của đàn anh, đây là một trong vài chuyện khiến tôi ân hận nhất trong suốt cuộc đời làm lính của mình.
Ngoài ra tôi cũng muốn nói lời cám ơn với Tướng Sang, Tư Lệnh Sư Đoàn 6 Không Quân, và Đại Tá Bút, Không Đoàn Trưởng. Vì biết tôi phải bay thường xuyên và gặp rất nhiều nguy hiểm nên hai vị đã cấp cho tôi một phi công can đảm, dày dạn kinh nghiệm, hằng ngày không thay đổi, là Đại Úy Toàn. Tôi biết đây không phải là cách đối xử thường lệ của Không Quân. Đại Úy Toàn hằng ngày bay vào Pleime với tôi, có lúc đạn phòng không 37 ly và 12 ly 7 bắn lên tua tủa nhưng anh Phi công này đã nhanh nhẹn làm “auto” rớt xuống bay la đà phía trên các ngọn cây tránh đạn. Lại có một ngày tôi muốn đáp thẳng xuống Trại Pleime thăm Thiếu Tá Long và khuyến khích anh em binh sĩ, với sự hướng dẫn của Thiếu Tá Long, Đại Úy Toàn đã lòn lách được xuống Trại. Lại phải bay ra rồi bay vào đón tôi, nguy hiểm không biết dường nào.
Đến đây thì phần “Binh Nghiệp của Vị Tướng Việt Nam Cộng Hòa Cuối Cùng” đã chấm dứt, vì đoạn chót đã được trình bày từ đầu cuốn sách, với “Trận Ban Mê Thuột”, “Cuộc họp Cam Ranh”, “Cuộc Triệt Thoái Quân Đoàn II”, v.v… Tác giả từng viết rằng giới lãnh đạo quân sự cao cấp người Mỹ nhận định rằng một khi các Sĩ Quan trung cấp Việt Nam Cộng Hòa đã trở thành cấp chỉ huy cao cấp thì thắng lợi sẽ nghiêng về Miền Nam.
Vào những năm cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, một tin đồn rộng rãi khiến giới Sĩ quan trẻ rất phấn khởi:
Trung Tướng Ngô Quang Trưởng sắp trở thành Tổng Tham Mưu Trưởng. Khởi đầu từ Ngô Quang Trưởng, tương lai quân đội Việt Nam Cộng Hòa còn có Phạm Văn Phú, Nguyễn Duy Hinh, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Văn Thân, Bùi Thế Lân, Lê Quang Lưỡng, Lê Nguyên Vỹ, Trần Quang Khôi, Lê Minh Đảo, Trần Văn Nhựt, Lý Tòng Bá, Mạch Văn Trường, Phạm Duy Tất v.v…và các Sĩ quan cấp Tá đang nắm các chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng, Trung Đoàn Trưởng, Liên Đoàn Trưởng …
Rất tiếc, giới quân sự Mỹ có thể chờ đợi, nhưng chính phủ của họ thì chỉ muốn ù té chạy cho sớm, dù phải ra tay ám sát quân sự “đồng minh”.
Rất tiếc, Chính phủ và giới chỉ huy quân sự cao cấp của Miền Nam thì chỉ duy nhất một tinh thần lệ thuộc Mỹ.
Nên mọi hy vọng của phía quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã biến mất chỉ trong vòng 55 ngày ngắn ngủi.
Đêm 30 tháng Tư 1975, ngồi trên tàu đang lênh đênh giữa biển khơi, thình lình chiếc radio của người bạn bên cạnh thoát ra lời kết của đài BBC bén hơn dao nhọn:
Cuối cùng thì quân đội Việt Nam Cộng Hòa, một đạo quân thiện chiến nhất Vùng Đông Nam Á, đã phải bại trận trước quân Cộng Sản Bắc Việt ! Những giòng nước mắt đầm đìa, những tiếng nấc nghẹn ngào không thể dằn xuống được, đám người ngồi nằm xung quanh chiếc radio nhìn nhau khóc nức nở, những lồng ngực như bị quả đấm ngàn cân vô hình nện vào, một lời thốt ra không nổi. Chỉ còn biết cúi chụm đầu khóc với nhau.
Trong nhiều kiếp luân hồi, mỉa mai thay chiến tranh mang lại sự tiến bộ cho loài người, nên có lẽ ai đã từng làm lính, không ai xa lạ với nghề làm lính, từ lúc thuyền nan gậy gộc cho đến tàu buồm gươm đao, rồi tàu ngầm máy bay, súng ống hỏa tiễn, nhưng kinh nghiệm làm lính thất trận phải là thê thảm nhất.Mà chỉ vì bị Ám sát.
Trong ba thế lực Ta – Bạn – Thù, quân đội mình bị Ám sát bởi Bạn và Ta, còn Thù chỉ là “kẻ thừa hưởng”, có đau không ?!
Viết phần “Binh Nghiệp của Vị Tướng Việt Nam Cộng Hòa Cuối Cùng” đi khá sâu vào chi tiết, tác giả chỉ hy vọng trình bày cho những độc giả không dính líu hoặc sinh sau cuộc chiến tranh Quốc – Cộng thấy được những hy sinh, cố gắng của quân đội Việt Nam Cộng Hòa.
Chúng ta có thể đoan chắc rằng đồng thời với Sĩ Quan Phạm Duy Tất, quân đội Việt Nam Cộng Hòa còn có rất nhiều Sĩ Quan khác tương tự như vậy hay giỏi hơn nữa không chừng.
Hiện tại, vị Tướng cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa đã vào tuổi 80 và rất siêng năng đi Nhà Thờ mỗi cuối tuần. Vẫn tuân phục mọi sắp đặt là do Thượng Đế, ta phải vui vẻ chấp nhận thôi sau khi đã cố gắng hết mình.
Ông nói với tác giả, tôi thấy hay nhất là anh kết luận cho cuốn sách này:
Tất cả đều do Thượng Đế sắp đặt. Nhưng tác giả không chịu vậy, niềm tin của ông thì tại sao tôi lại phải viết chứ ?
Vả lại cuốn sách viết về Chuẩn Tướng Phạm Duy Tất Và Sự Thật Cuộc Triệt Thoái Quân Đoàn II thì Lời Kết phản ảnh trung thực nhất chắc chắn là nên do nhân vật chánh.Vậy xin mời Chuẩn Tướng Phạm Duy Tất và độc giả …
LỜI KẾT
Đệ nhị Thế chiến bùng nổ, tôi một cậu bé đang học bậc Tiểu học trường Huyện, từ nhà đi bộ đến trường khoảng 7 cây số. Hằng ngày tôi đã mục kích những trận không chiến, máy bay Mỹ rượt đuổi, bắn hạ máy bay Nhật trên bầu trời quê tôi. Tôi đã không chút sợ hãi, còn vui thích đứng nhìn. Tôi đã có cảm tình với Mỹ và căm ghét quân Phát Xít Nhật từ đó. Nhật đầu hàng, Việt Minh nổi dậy cướp chính quyền ( Cách Mạng tháng Tám). tiếp theo quân đội Pháp trở lại Đông Dương, chiếm đón quê tôi. Đây là vùng có chiều ngang hẹp nhất, một khu vực chiến lược nằm chính giữa nước Việt hình chữ S. Chính vì tính cách chiến lược của nó nên người Nhật đến cũng chiếm đóng, quân Pháp quay trở lại cũng trấn giữ tại đây.
Trong cuộc chiến tranh xâm lược của Cộng Sản miền Bắc, đây chính là khởi đầu con đường mòn Hồ Chí Minh. Trong thời kỳ Mỹ oanh tạc miền Bắc, quê tôi phải chịu nhiều bom đạn triền miên. Sau này tôi mới biết chị dâu, vợ anh Cả tôi đã chết cùng đứa cháu vì bom Mỹ. Tôi là con út trong một gia đình địa chủ – phú nông.
Tôi có 5 anh trai và một chị gái. Cha mất sớm, anh cả tôi quyền huynh thế phụ, trông nom gia đình. Anh thứ hai là cán sự Công Chánh (lúc bấy giờ Kỹ Sư Công Chánh Việt Nam không có hoặc rất hiếm) là chuyên viên, công chức Pháp phụ trách mở đường sá, xây dựng cầu cống tỉnh Pleiku mà Pháp vừa thành lập. Người anh thứ ba cũng là chuyên viên làm việc với anh thứ hai tại Pleiku. Chị gái tôi đã có chồng người làng khác cùng Huyện. Anh rể tôi cũng con một gia đình địa chủ – phú nông. Anh thứ tư đang học trường Bách Khoa ở thành phố Vinh tỉnh Nghệ An. Anh thứ năm Phạm Vỵ và tôi đang ở nhà với mẹ.
Nhật đảo chánh Pháp, hai người anh ở Pleiku trở về nhà. Việt Minh nổi lên. Người anh thứ tư Phạm Lũy theo Việt Minh từ trước, trở thành Chính trị viên một đơn vị Giải phóng quân. Pháp trở lại, với chính sách tiêu thổ kháng chiến ban bố ra, gia đình tôi phải chạy lên núi vào vùng kháng chiến.
Một thời gian ngắn sau, mẹ tôi và anh Cả, anh Vỵ cùng tôi trở về nhà. Thảm họa bắt đầu đến với gia đình tôi, anh Cả bị Pháp bắt giết khi họ vừa đặt chân đến quê tôi. Tiếp theo quân Pháp tiến hành khủng bố dân làng, mở cuộc hành quân bố ráp bắt khoảng 50 người không phân biệt già trẻ lớn bé xả súng giết toàn bộ. Tôi thoát chết nhờ không ở ngay trên con đường đi qua của chúng. Mẹ tôi sợ quá nên đưa tôi vào chiến khu. Hai người anh kế rồi cũng bị quân Pháp bắt, bị tra tấn, nhưng sau đó được thả ra. Anh thứ hai không muốn về hợp tác, làm việc lại cho Pháp nên đã chạy vào chiến khu. Trái lại anh thứ ba thì chạy về thị xã Đồng Hới và đầu quân vào quân đội Quốc gia, bấy giờ gọi là Việt Binh Đoàn. Anh kế tôi, Phạm Vỵ trốn mẹ tôi, chỉ nói với tôi rằng phải đi về Đồng Hới chứ không ở đây nữa. Anh rể tôi thay vì chạy vào khu, lại đưa gia đình về Đồng Hới, khi trở về làng thì bị bọn Việt Minh giết. Anh thứ tư Phạm Lũy theo Việt Minh sớm thì cũng chết sớm trong trận đánh tại Xuân Bồ năm 1950. Chính anh Vỵ tôi đã tịch thu được cái “xắc-cốt”, loại chỉ có cán bộ mới đeo, trong xắc có hình ảnh, tài liệu đầy đủ, nên mới biết đó chính là anh mình. Đây không những là người Việt giết người Việt mà còn là anh em giết nhau. Thảm cảnh của đa số các gia đình Việt Nam trong thời chiến. Mẹ tôi, như bao nhiêu bà mẹ Việt Nam khác đã chịu nhiều khổ sở, đau lòng với những nghịch cảnh, làm sao cầm được nước mắt khi nhớ đến con mình.
Năm 1946 trong khi ở chiến khu có tuyển thiếu niên để đưa ra Vinh học, nghe nói đào tạo kỹ sư. Tôi đang ao ước được tiếp tục học nên đã ghi danh, nhưng không được chọn. Lúc bấy giờ tôi đã từng nghe đến hai chữ Cộng sản và thường là gắn liền với thành phần vô sản, giai cấp vô sản. tuy còn non nớt nhưng tôi cũng nhận thức được mình không ở trong thành phần này nên không được chọn. Thế là tôi trở về và lần mò về Đồng Hới tìm anh Vỵ tôi. Bước ngoặt cuộc đời tôi cũng bắt đầu từ đây.
Trong thời gian đi học tại Huế, tôi mơ ước trở thành thầy giáo vì nghĩ đến đại đa số thanh thiếu niên quê tôi đều chịu cảnh mù chữ, nhưng cuối cùng tôi gia nhập Quân đội theo lệnh động viên lúc mà chiến trận đang ở giai đoạn quyết liệt năm 1954. Tôi đã là Sĩ quan trừ bị. Năm 1956 Bộ Quốc Phòng ra văn thư khuyến khích các Sĩ quan trừ bị gia nhập hiện dịch. Tôi thích lính, yêu Quân đội, thích đời sống mạo hiểm, nhưng không muốn thành lính chuyên nghiệp, “nghề lính”. Tôi sẽ trở về đời sống dân thường nếu hết chiến tranh. Vì vậy bạn bè cùng đơn vị ai cũng chuyển qua hiện dịch, riêng mình tôi thì không. Tôi cho rằng phục vụ tốt hay kém là do tinh thần mỗi người chứ không phải hiện dịch hay trừ bị. Tôi muốn chứng tỏ sĩ quan trừ bị, nhưng lại nghĩ chắc trừ bị không được đào tạo ưu tiên, có lẽ mình khó tiến xa, thôi hãy phó mặc đời mình trong tay Chúa. Tôi rất mê học nên dù đã vào Quân đội, trong những lúc thời gian thuận lợi, tôi tiếp tục đi học đêm, sau đó học hàm thụ. Tôi thích học Anh văn, toán và triết học nên mãi mê mua sách về tự học. Tôi không có thì giờ để thi và cũng không muốn thi cử. Tôi chỉ thuần túy cố gắng trau dồi kiến thức.
Suốt 10 năm cuộc chiến trở nên ác liệt từ 1965 đến 1975, tôi không hề có ngày ngơi nghỉ. tôi thoát chết rất nhiều lần trong dường tơ kẽ tóc. một lần tại Khe Sanh, trời lạnh, tôi rời ghế phía ngoài cùng vào ghế trong, chiếc C&C của tôi vừa bay vào thung lũng thì súng phòng không địch bên dưới sườn núi bắn một loạt. nhìn lại cái ghế tôi vừa rời khỏi lãnh mấy viên đạn xuyên thủng.
Lần khác ở Bồng Sơn, Phú yên chiếc C&C của tôi bị trúng đạn, tôi phải ngồi lên trực thăng võ trang (gunship) để vào vùng, trực thăng xạ kích, tôi liên lạc chỉ huy hướng dẫn. Chiếc gunship cũng trúng đạn lổ chổ phải quay trở về đáp, viên phi công kiểm soát rồi chỉ cho tôi và cố vấn xem, sợi dây cáp to hơn ngón tay cái nối liền với chong chóng đuôi nay chỉ còn là một sợi chỉ. Viên phi công, Cố vấn và tôi ba người nhìn nhau trợn mắt không nói được lời nào.
Lần khác tại thung lũng Ashau, một Toán bị tấn công, C&C phải đáp xuống cấp cứu, triệt thoái Toán, phi cơ bị bắn không còn bay được phải bỏ lại tại chỗ. Chiếc khác phải đáp xuống cứu ra. Còn nhiều trường hợp lắm. nhiều người thường nói rằng các ông bay cao an toàn, sung sướng quá, đi dưới đất mới khổ, mới nguy hiểm. Điều đó còn tùy. Nếu tôi được đi dưới đất có lẽ tôi thích hơn. Chính vì những hiểm nguy quên mình này cho nên Không Lực Hoa Kỳ mới tặng thưởng cho tôi huân chương cao quý nhât của Quân chủng này là “Distinguish Flyng Cross” và “Air Medal with V device”.
Từ 1965 đến tháng Tư 1975, 10 năm khốc liệt tôi tham chiến khắp 4 Vùng Chiến Thuật, tôi đã trải qua bao nhiêu trận chiến lớn nhỏ, tôi chưa hề để thua trận nào. Dù ở đâu, tôi cũng phục vụ hết mình.Tôi có thể hãnh diện rằng mình đã làm nhiều hơn trách nhiệm đòi hỏi. Cuộc rút bỏ Kontum – Pleiku cấp tốc về Nha Trang để tái chiếm lại Ban Mê Thuột là một chiến lược phiêu lưu, bỏ của chạy lấy người của cấp lãnh đạo tối cao dân sự cũng như quân sự ở Sài Gòn.. Không thể đổ lỗi các cấp chỉ huy chiến trường là kém cõi, hay cácTướng lãnh bất tài.
Rút đi một Quân Đoàn, rút bỏ một Quân Khu, thì Bộ Tổng Tham Mưu phải có kế hoạch, có giám sát, yểm trợ đầy đủ, bao vùng v.v… Bộ Tổng Tham Mưu đã làm gì ? Không làm gì cả, phó mặc.
Sài Gòn hấp hối, cá nhân tôi vẫn còn trực thăng để bay ra Hạm Đội 7. Viên Đại Tá Chỉ Huy Phó cơ quan DAO (Hoa Kỳ) cũng đến tận nhà ưu ái muốn đưa vợ con tôi di tản trước. Chúng tôi đã quyết định ở lại, chấp nhận số phận. Tôi không thể bỏ chạy một mình trong khi toàn bộ lực lượng Biệt Động Quân vẫn còn nguyên tại chỗ.
Đại Úy Toàn, phi công trưởng khi biết tôi không đi liền nói với tôi: Nếu ông ở lại thì để cho tôi lấy trực thăng đi, máy bay đủ xăng, có tần số Hạm đội. Tôi đã trả lời với anh Toàn, tôi phải trả lại cho Không Quân. Nhìn thái độ của Toàn, rõ ràng anh ta là một sĩ quan kỷ luật sẽ trả lại máy bay. Tôi đã ân hận mãi, ước gì Đại Úy Toàn đã dùng trực thăng đó để thoát thân. Đại Úy Toàn đã cùng tôi mỗi ngày chịu cực, chịu nguy hiểm suốt hơn một năm trời.
Những ngày sau cùng của miền nam, tôi đã từng nghĩ đến một phát đạn kết liễu cuộc đời, đêm nằm thổn thức một mình với miên man đủ thứ trong đầu. Tôi là người Công Giáo, sự sống và sự chết của tôi là do Chúa định đoạt, tôi không có quyền tự lựa chọn. Tôi tin mọi sự đã có Chúa an bài. Cũng như bao lần tôi thoát chết chẳng phải đã có bàn tay của Chúa đó sao ? Tin tức có tắm máu, xử theo tội phạm chiến tranh. Tôi bình thản kể cả phải ra pháp trường. Cuối cùng Tướng Đỗ Kế Giai và tôi đều ở tù Cộng Sản suốt 17 năm dài, trong số 100 quân nhân - Cảnh sát … Việt Nam Cộng Hòa sau cùng thoát khỏi ngục tù Cộng Sản. Tôi không hề ân hận. Tôi tự thấy mình đã làm tròn bổn phận: Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm.
Năm 1993 gia đình tôi đến được vùng đất tự do. Cứ mỗi lần gặp bạn bè, những người quen, những Tướng lãnh đàn anh, những bạn Mỹ muốn viết sách về chiến tranh Việt Nam, những nhân viên truyền hình Mỹ muốn phỏng vấn, ai cũng hỏi tôi, khuyến khích tôi nên viết hồi ký. Tôi không có ý định viết. Cuộc chiến đã tàn từ lâu, nhưng trăn trở vẫn còn đó. Thất vọng, tức giận, căm ghét đổ lỗi cho nhau vẫn ầm ỹ. Tôi chưa hề phủ nhận mình là bại tướng. Đã công khai nói ra điều này rồi. Lặng thinh là điều chính đáng, tôi nghĩ vậy và đã im lặng rất lâu. Dù ai gây ra, tạo nên cuộc thua trận này, Tướng lãnh trong quân đội trước đó có tài giỏi đến đâu thì nay vẫn là bại tướng. Viết ra, kể ra, ắt sẽ liên hệ đến một số người, đụng chạm đến những cấp lãnh đạo. Tôi sợ rằng người ta sẽ cho mình là kẻ bất trung, bất nghĩa, kẻ phản bội …Tuy là người trong cuộc, nhưng vẫn không thoát khỏi chủ quan, không khéo độc giả sẽ cho rằng mình viết để tự đề cao, để thanh minh, để chạy tội.
Khi gặp anh Đỗ Sơn, anh muốn tôi hợp tác kể lại cho anh ta viết, Tôi đã đắn đo mãi. Cuối cùng tôi nghĩ ai rồi cũng sẽ trở về cát bụi, nhưng lịch sử thì sẽ tồn tại. Tôi phải trả lại lịch sử những gì mình biết và đã trải qua. Việc phê phán là quyền của độc giả và lịch sử sau này. Tôi đã kể chuyện với anh Đỗ Sơn để quyển sách này ra đời. Hình như tôi đã sai, đã im lặng quá lâu. Lẽ ra cuốn sách này phải được viết từ nhiều năm trước để rộng đường dư luận.
Cuối cuốn sách tôi chỉ xin tác giả cho tôi nói lên tâm sự thuộc về nội tâm và riêng tư. Trước hết tôi hết lòng cám ơn vợ tôi đã một lòng yêu thương tôi, chăm lo con cái, gia đình. Giống như bao người vợ lính khác, tôi biết mỗi giờ, mỗi ngày vợ tôi hồi hộp, chờ đợi. Mỗi khi xem báo, nghe đài, mặt trận chỗ này chỗ kia, thì run sợ ăn không ngon, ngủ không yên. Vậy nhưng vợ tôi chưa bao giờ có một lời than thở, thậm chí còn không biểu lộ trên nét mặt nỗi lo âu sợ hãi. Tôi cũng không bao giờ đem kể những hiểm nguy mà tôi đã trải qua.
Cuối cùng tôi cũng nhân cơ hội này tưởng nhớ đến một người, một người bạn học thuở thiếu thời. Một hôm chúng tôi gặp nhau, sau đó tôi đã tự rời xa không nói rõ nguyên nhân, quên cả tiếng chào tạm biệt. Nhưng chính người đó đã chi phối suốt cuộc đời tôi.
Hôm nay tàn cuộc chiến, tôi chỉ xin nói hai chữ cảm thông, cũng xin chính thức nói lời từ biệt.
Xin chân thành cám ơn tất cả mọi người, không phân biệt người thương kẻ ghét. Tôi tin tưởng Thượng Đế sẽ an bài tất cả, nhất định không để dân Việt phải chịu khổ ải, đọa đày mãi dưới ách Cộng sản. Đất nước đã thống nhất từ lâu mà lòng người vẫn ly tán. Cuộc chiến Quốc Cộng vẫn dai dẳng, gay gắt. Nhưng Việt Nam nhất định sẽ được độc lập thanh bình, dân tộc Việt Nam sẽ được ấm no, hạnh phúc. Phạm Duy Tất
 
Bài Viết Mới Nhất
Mùa Giáng Sinh / Năm Mới
NGHIỆN RƯỢU / Norman Pham
Thơ - Văn - Chuyện
NHỚ ANH / HT Cư An Tư Nguy
Xin đừng vĩnh viễn mất nhau/ Đông Hương
Làm sao níu lại tim người/Đông Hương
Mưa sáng nay/ Đông Hương
» Đọc thêm Thơ-Văn-Chuyện
Thông báo
Mùa Giáng Sinh / Năm Mới
Lễ Tạ Ơn
Phân Ưu
Họp mặt tại Đà Nẵng Khăn Vàng 973
» Đọc thêm Thông Báo
Chuyện Cười
NỖI BUỒN THA HƯƠNG
TRÀ - RƯỢU VÀ ĐÀN BÀ
Chuyện vui lụt “Huế” .
Chỉ có vợ
» Đọc thêm Chuyện Cười
Kiến thức
Sự thờ ơ chính trị của thanh niên Việt Nam
Sự thật cuộc triệt thoái Quân Đoàn II (9) /Hết
Nhớ KVKT 973
Sự thật cuộc triệt thoái Quân Đoàn II (8)
» Đọc thêm Kiến Thức
Sức Khỏe
NGHIỆN RƯỢU / Norman Pham
15 lợi ích tuyệt vời của việc nghe nhạc
Thông tin và nguồn tham khảo về bệnh Alzheimer's
Chuyện con tim
» Đọc thêm Sức Khoẻ
World Cup 2014
 
Quư vị có thể gửi bài viết, h́nh ảnh bằng cách gửi qua mẫu form » xin nhấn vào đây
Hoặc email đến Trang Đức Nguyễn 412
trangdnguyen1@hotmail.com
Khăn Vàng 973

 Copyright © 2017 Khan Vang 973. All rights reserved.
12G0M